Thứ Sáu, ngày 17 tháng 5 năm 2013

+ Đức Tin Và Văn Hóa, P1


ĐỨC TIN VÀ VĂN HÓA - P.1

“Đức tin không trở thành văn hóa là đức tin chưa lĩnh hội đầy đủ, chưa chín chắn và là một đức tin chưa sống một cách trọn vẹn.” (Đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II)


DẪN NHẬP

Trong thiên nhiên, bất cứ sinh vật nào muốn tồn tại và phát triển  cũng phải thích ứng với môi trường, nếu không ắt sẽ bị đào thải đi đến chỗ diệt vong. Đây là một quy luật sinh tồn và phát triển  của muôn loài. Tương tự, Giáo hội cũng vậy, việc thích ứng với môi trường văn hóa và những tương giao giữa Giáo hội và thế giới là việc sống còn của Giáo hội. 

Nhưng thế giới luôn biến đổi và biến đổi nhanh chóng, nếu Giáo hội không thích ứng kịp sẽ bị cô lập, tụt hậu và tự đào thải chính mình[i]. Có thể nói: hội nhập văn hóa là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của Giáo hội ngày hôm nay. Do đó, để đức tin, của Giáo hội nói chung và của mỗi cá nhân nói riêng, lớn mạnh và phát sinh hiệu quả trong các nền văn hóa đòi hỏi Giáo hội, các nhà truyền giáo và ngay cả mỗi cá nhân phải  học hỏi và hiểu thấu đáo giá trị của mỗi nền văn hóa nơi mình được sai tới, nơi mình sinh sống để xây dựng cho đức tin và văn hóa một mối tương quan hỗ tương bền vững.

1. ĐỨC TIN VÀ VĂN HOÁ
Đức tin và văn hóa là hai phạm trù, hai khái niệm khác nhau nhưng rất phong phú và có liên quan với nhau  nên để có được một khái niệm gọn gàng và súc tích về đức tin hay về văn hóa quả là khó khăn. Cái khó của định nghĩa về một vấn đề phong phú như văn hóa hay đức tin chẳng khác gì “bắt con voi mặc cái quần của con chuột” hay “lấy bao nilông đựng gió”; vậy, định nghĩa ngắn gọn thì thiếu, định nghĩa dài để diễn tả cho đầy đủ yếu tính của nó lại xem ra rườm rà và có khi trở thành một sự mô tả. Tuy nhiên, cho dù khó khăn, chúng ta cũng cần có một vài khái niệm về văn hoá và đức tin để thấy rõ yếu tính cũng như  mối tương quan của chúng trong cuộc sống của mỗi người, mỗi dân tộc,  và của Giáo hội.

a.  Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa
 “Văn hóa là những giá trị tương đối ổn định thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục , tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…”[ii]

“Văn hóa là địa hạt sống còn, trong đó con người đến mặt giáp mặt với Tin mừng. Đúng như văn hóa là thành quả của sự sống và hoạt động của một nhóm người, thì người nào thuộc nhóm đó cũng được uốn nắn trong phạm vi rộng rãi bởi nền văn hóa trong đó họ đang sống.”[iii]

Giáo hội Công giáo, cụ thể Công Đồng Vatican II, nhìn nhận con người là tác giả của tất cả các nền văn hóa. Theo nghĩa rộng, từ văn hóa chỉ tất cả những gì con người dùng để học hỏi, để trau dồi và phát triển các khả năng của tâm hồn và thể xác, nỗ lực chế ngự thiên nhiên bằng trí óc và lao động, để làm cho cuộc sống con người trở nên trọn vẹn hơn trong mọi mặt. Văn hóa nhân loại mang theo nhiều sắc thái lịch sử và xã hội, từ văn hóa thường mang ý nghĩa xã hội và sắc tộc. Văn hóa là tổng thể các phong tục, tín ngưỡng, luật lệ, cơ chế, nghệ thuật thẩm mỹ, cư ngụ, ăn uống, cuối cùng và trên hết là ngôn ngữ và hành trang kiến thức mà một người thu thập được khi sống trong xã hội đó. Công Đồng còn nhấn mạnh ngôi vị con người chỉ đạt được nhân tính đích thực và trọn vẹn nhờ văn hóa.[iv]

Như vậy, chúng ta có thể đi đến một định nghĩa chung: Văn hóa là hệ thống các ý tưởng về giá trị của mọi lãnh vực trong cuộc sống được diễn tả qua những biểu tượng, những cử chỉ, những quy ước, những phong tục, những tôn giáo, những kiến thức mà qua đó chúng ta đón nhận cũng như chia sẻ với người khác trong cộng đồng chúng ta sống để chúng ta trưởng thành trong tiến trình thành nhân..

b. Một Vài Khái Niệm Về Đức Tin
 Đức tin là một ân sủng của Thiên Chúa, là nhân đức siêu nhiên do Thiên Chúa phú bẩm trong con người. Điều này được chứng minh khi thánh Phê-rô tuyên xưng Đức Giê Su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống “Phàm nhân không ai có thể mạc khải cho anh biết điều ấy được, nhưng chính  là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời đã mạc khải cho anh biết điều ấy” (Mt 16,17). Đức tin là một hành vi nhân linh nhưng cũng là một hành vi đích thực của con người không đi ngược lại tự do và trí khôn của con người. Đức tin là một hành vi của trí khôn chấp nhận chân lý mặc khải theo lệnh của của ý chí được ân sủng Thiên Chúa tác động.[v]

Đức tin là một hành vi nhân linh và cá nhân nhưng đức tin không phải là một hành vi riêng rẽ. “Không ai có thể tin một mình cũng như không ai có thể sống một mình. Không ai tự ban cho mình đức tin cũng như không ai tự ban cho mình sự sống. Người tin nhận đức tin từ người khác và lại truyền đức tin đó cho người khác.”[vi] Điều này có nghĩa là đức tin không chỉ tồn tại nơi mỗi cá nhân mà còn tồn tại nhờ cộng đồng. Cộng đồng đó chính là Giáo hội và cũng là môi trường văn hóa, nhưng đức tin lại là trung tâm và nguồn gốc của đời sống tôn giáo.

c. Tương Quan Giữa Đức Tin Và Văn Hóa
Như đã trình bày ở trên, văn hóa là tổng thể các phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, luật lệ, cơ chế, nghệ thuật thẩm mỹ, cư ngụ, ăn uống, ngôn ngữ, hành trang kiến thức và niềm tin mà mỗi một người, mỗi một cộng đồng thu thập được khi sống trong nền văn hóa đó. Như vậy, trong tổng thể văn hóa đó bao gồm cả đức tin. Và như đã nói, đức tin là nguồn gốc và là trung tâm của cả đời sống tôn giáo mà tôn giáo không thể và không bao giờ tách rời khỏi các nền văn hóa, tôn giáo luôn tồn tại trong các nền văn hoá. Điều này thật rõ ràng khi một tôn giáo nhưng lại tồn tại và biểu lộ niềm tin một cách sinh động trong nhiều nền văn hóa khác nhau. 

Nói cách khác, không có tôn giáo nào có thể tồn tại ngoài các nền văn hóa, không có một tôn giáo nào không cần đến một nền văn hóa. Ngược lại, có thể có những nền văn hóa không cần có sự hiện diện của tôn giáo. Đức tin được coi như là thành phần của văn hóa, làm cho văn hóa phong phú hơn, sinh động hơn và ý nghĩa hơn vì nó mang lại cho nền văn hóa những chiều kích tâm linh  mạnh mẽ và những khát vọng hướng tới chân thiện mỹ. Có thể nói vận mạng của Giáo hội phụ thuộc vào mối tương quan, phụ thuộc vào cách thức Giáo hội đưa đức tin vào văn hóa như thế nào, phụ thuộc vào việc Giáo hội đối thoại với các nền văn hóa.

Văn hóa gắn liền với mỗi cá nhân, mỗi dân tộc như hình với bóng. Người ta có thể loại bỏ đức tin ra khỏi cuộc sống của họ nhưng không thể loại bỏ văn hoá, nếu loại bỏ văn hóa thì một dân tộc, một cộng đồng không còn là một dân tộc hay một cộng đồng nữa. Như Công đồng Vatican II đã nói ngôi vị con người chỉ đạt được nhân tính đích thực và trọn vẹn nhờ văn hóa. Chính vì thế, Đức Gioan Phao lô II muốn Giáo hội, muốn mỗi người Kitô hữu sống đức tin một cách cụ thể hơn để tỏ rõ mối tương quan giữa đức tin và văn hóa qua lời phát biểu trên.

Thomas HOÀNG NGỌC AN, MS
(Còn nữa)



[i] Nguyễn Chính Kết, Thích Ứng Và Hội Nhập Văn Hóa Trong Truyền Giáo, Tp. HCM, 1998, tr.6.
[ii] Trần Ngọc Thêm, Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa việt Nam, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 24.
[iii] Giáo Hội Tại Á Châu, Số 21.
[iv] Thánh Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Vui Mừng Và Hy Vọng, Số 53 và 54.
[v] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Số 153 đến 155.
[vi] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 166.